Cẩm nang

Cách tìm các cung biến | Tự xem Phong Thủy

Tám tượng Bát quái: Mỗi tượng có ba hào. Hào Dương là nét liền, hào Âm là nét đứt, ta phải thuộc nhuần nhã, chừng nào nhìn vào biết đó là tượng gì ngay mới dùng được.

Thuộc lòng bài này và hình các tượng:

Bát biến du niên - Tự xem phong thủy | Giá khoán Xây dựng


Ta nên đọc tắc như vầy cho mau thuộc cái đã:

CÀN tam liên               (ba hào liền)

KHẢM trung mãn        (hào giữa kín)

CẤN phúc cản             (như chén úp)

CHẤN ngưỡng bồn      (như chậu ngửa)

TỐN hạ đoạn               (hào dưới đứt)

LY trung hư                  (hào giữa trống)

KHÔN lục đoạn          (đứt làm sáu)

ĐOÀI thượng khuyết   (hào trên hủng)


Bạn nào muốn đọc theo chữ Việt này cũng được, tuy thứ tự khác, có chỗ dùng khác, nhưng cốt cũng để nhớ hình của các tượng:

CÀN 1 ghi luôn ba đường liền,

ĐOÀI 2 khuyết hết một hào trên,

LY 3 trống lổng nơi hào giữa,

CHẤN 4 hình như chậu ngưỡng thiên,

5 TỐN dưới thì hào phải đứt,

6 là quẻ KHẢM giữa hào nguyên,

7 xem quẻ CẤN chậu hình úp,

KHÔN 8 ba hào đứt tự nhiên.

Bài bấm 64 cung Bát Trạch:

Chỉ dùng cho Phi Cung Bát Trạch mà thôi. Chớ có đem Cung Sanh hay Phi Cung Bát Tự mà bấm theo bài này là rất lầm. Phải học cho thật thuộc mới được:

Nhứt biến thượng Sanh Khí

Nhì biến trung Ngũ quỷ (Giao chiến)

Tam biến hạ Diên niên (Phước Đức)

Tứ biến trung Lục sát (Du hồn)

Ngũ biến thượng Họa hại (Tuyệt thế)

Lục biến trung Thiên y

Thất biến hạ Tuyệt mạng

Bát biến trung Phục vì (Quy hồn)

Chữ BIẾN ở trong bài có nghĩa là ĐỔI, đương hào Âm đổi ra hào Dương, đương tượng này đổi ra tượng khác. Nhất, Nhì, Tam, Tứ, Ngũ, Lục, Thất, Bát là 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8. Nhất biến là đổi lần thứ nhất, nhì biến là đổi lần thứ hai ... đến ... bát biến thì đổi lần thứ tám là trở lại tượng đầu, nếu không trở lại tượng đầu là đã bấm lộn, phải xét lại. Biến 8 lần như thế là đủ 8 cung hay 8 tượng.

Ngũ quỷ với Giao chiến là một,

Diên niên với Phước đức là một,

Lục sát với Du hồn là một,

Họa hại với Tuyệt thế là một,

Phục vì với Quy hồn là một.

Nhưng Tạo tác gọi một tên, Hôn nhơn lại gọi một tên, chỉ có Sanh khí, Thiên Y và Tuyệt mạng thì hai bên giống nhau.

Dưới đây viết phân biệt ra cho dễ nhận: 

Tên Tạo tác

Tên Hôn nhơn

Sanh Khí

Sanh Khí

Ngũ quỷ

Giao chiến

Diên niên

Phước Đức

Lục sát

Du hồn

Họa hại

Tuyệt thế

Thiên y

Thiên y

Tuyệt mạng

Tuyệt mạng

Phục vì

Quy hồn

 

Tìm cung biến này, mục đích để coi hướng nhà cửa, hướng mồ mả, cung vợ chồng hạp kỵ, tốt xấu. Trong 8 cung: Sanh khí, Diên niên, Thiên y và Phục vì là 4 cung tốt, còn 4 cung kia là xấu, sau sẽ nói rõ.

CÁCH BẤM: Như bấm tìm hướng nhà cửa tốt xấu thì lấy cung chủ nhà mà bấm đến hướng nhà thì dừng lại, coi hướng mồ mả thì lấy cung người thác, coi về hôn nhơn thì lấy cung người chồng bấm đến cung người vợ.

Lối bấm này có hai cách:

a) Dùng cả 2 tay: 2 ngón tay trỏ, tượng trưng cho hào hạ, 2 ngón tay giữa tượng trưng cho hào giữa, 2 ngón tay vô danh (đeo nhẫn) tượng trưng cho hào thượng. Khi 2 ngón tay đâu đầu vào nhau là hào liền, hào Dương, khi 2 ngón tay hở ra là hào đứt, hào Âm.

Thí dụ 1: Người mạng Càn (Cung Càn) nhà day hướng Chấn có hạp không?

Bắt đầu dùng 2 tay lấy tượng CÀN (càn tam liên) đầu 2 ngón tay trỏ, 2 ngón tay giữa, 2 ngón tay vô danh đâu vào nhau, đó là tượng càn, tức cung của chủ nhà [   ]. Giờ ta hô:

1.Nhứt biến thượng Sanh Khí, 2 ngón tay vô danh hở đầu ra, tuợng CÀN đã biến thành tượng ĐOÀI [   ].

2.Nhì biến trung Ngũ quỷ, 2 ngón tay giữa hở đầu ra, tượng ĐOÀI lại biến thành tượng CHẤN [   ].

Người cung CÀN làm nhà day về hướng CHẤN phạm Ngũ quỷ, còn cưới vợ phạm Giao chiến là hung.

Thí dụ 2: Người mạng Ly cưới vợ mạng Tốn thế nào?

Bắt đầu dùng 2 tay lấy tượng Ly là tượng của người chồng như vầy: [   ] (Ly trung hư). Đầu hai ngón tay trỏ, 2 ngón tay vô danh đâu kín lại, đầu 2 ngón tay giữa hở ra, giờ từ tượng Ly [  ] này, hô biến lần thứ nhất:

1) Nhứt biến thượng Sanh Khí, 2 ngón vô danh hở đầu ra, tượng Ly trên giờ biến ra tượng CHẤN [  ]. Hô tiếp:

2) Nhì biến trung Ngũ quỷ, 2 ngón tay giữa đang hở khép kín lại, tượng CHẤN trên lại biến thành tượng ĐOÀI [  ]. Hô tiếp:

3) Tam biến hạ Diên niên, 2 ngón tay trỏ đầu đang khép lại hở ra, tượng ĐOÀI trên lại biến thành tượng KHẢM [  ]. Hô tiếp:

4) Tứ biến trung Lục sát (Du hồn), 2 ngón tay giữa đầu đang kín lại hở ra, tượng KHẢM trên lại biến thành tượng KHÔN [  ]. Hô tiếp:

5) Ngũ biến thượng Họa hại (Tuyệt thế), 2 ngón tay vô danh đầu đang hở giờ khép kín, tượng KHÔN trên lại biến thành tượng CẤN [  ]. Hô tiếp:

6) Lục biến trung Thiên y, 2 ngón tay giữa đầu đang hở thì khép kín lại, bây giờ tượng CẤN trên lại đổi ra tượng TỐN. Tốn là cung của ngưòi vợ.

Vậy, Người mạng Ly cưới vợ mạng Tốn được Thiên Y, hay làm nhà day cửa hướng Tốn được Thiên y đều tốt cả.

b) Dùng một bàn tay, chỉ dùng 3 ngón để bấm: ngón trỏ làm thượng hào, ngón giữa làm trung hào, ngón vô danh (ngón đeo nhẫn) làm hạ hào.

Khi ngón tay mở ra để thẳng ngang là hào Dương, co đầu nắm vào lòng bàn tay là hào Âm.



Ngón trỏ: Hào thượng, ngón giữa: hào trung, ngón vô danh: hào hạ. Ba hào đều Dương cả.



Ngón trỏ co vào như vậy la hào Âm, hai ngón kia: giữa và vô danh để thẳng ngang như vậy là hào Dương. Khi tính, hễ hô biến thì ngón tay đang co ở hào Âm thẳng ra, còn gặp ngón tay đang thẳng ở hào Dương thì co vào.

Ở đậy chỉ khác là dùng một bàn tay, còn cách tính vẫn như trước, nghiệm lấy mả hiểu. Muốn dùng một bàn tay hoặc hai bàn tay là tùy ý thích của mỗi người, cách nào cũng được. Dưới nói sơ lược về phần Kiết, Hung của 8 cung.

---o0o---

CỮU TINH NGŨ HÌNH

Sanh khí thuộc THAM lang tinh, Dương Mộc, Thượng kiết.

Thiên y thuộc CỰ môn tinh, Dương Thổ, Thượng kiết.

Diên niên thuộc VÕ khúc tinh, Dương Kim, Thứ kiết.

Phục vì thuộc BỒ chúc tinh, Âm Thủy, Thứ kiết.

Ngũ quỷ thuộc LIÊM trinh tinh, Âm Hỏa, Đại hung.

Tuyệt mạng thuộc PHÁ quân tinh, Âm Kim, Đại hung.

Lục sát thuộc VĂN khúc tinh, Dương Thủy, Thứ hung

Họa hại thuộc LỘC tồn tinh, Âm Thổ, Thứ hung.

THAM, CỰ, VÕ, VĂN là Dương tinh,

LỘC, BỒ, LIÊM, PHÁ là Âm tinh.

CÀN, KHẢM, CẤN, CHẤN là Dương cung,

TỐN,  LY,  KHÔN, ĐOÀI là Âm cung.

Cung là nội, Tinh là ngoại.

Nội khắc ngoại, bán hung,

Ngoại khắc nội, toàn hung.

Dương tinh khắc Âm cung bất lợi Nữ,

Âm tinh khắc Dương cung bất lợi Nam.

Thí dụ: Có người day cửa hướng Khảm mà phạm Lộc tồn (Họa hại), Lộc tồn là Thổ tinh và Âm tinh tức là nó khắc Dương khảm cung thuộc Thủy.

Cung Khảm là Trung Nam thì bất lợi cho Trung Nam. Đoạn này rất quan trọng, nên chú ý.

---o0o---

KIẾT TINH VÀ HUNG TINH

KIẾT TINH THỨ NHỨT: Sanh khí:  Phàm cung mạng hiệp được phương Sanh Khí này lợi cho việc làm quan, làm ăn mau giàu, nhơn khẩu được thêm, khách khứa tới đông, đến năm, tháng Hợi, Mẹo, Mùi thì được đại phát tài. Có 5 đứa con, dễ nuôi.

KIẾT TINH THỨ HAI: Thiên y: Nếu vợ chồng hiệp mạng được cung Thiên y và tạo tác nhà cửa, đường ra vào được Phương này thì giàu có ngàn vàng, không tật bịnh, nhơn khẩu, ruộng vườn, súc vật được đại vượng, khoảng một năm có của. Đến năm, tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì phát tài. Được 3 con.

KIẾT TINH THỨ BA: Diên niên (Phước đức): Vợ chồng hiệp mạng được cung này, đường ra vào, phòng, nhà miệng lò bếp xoay vế phương Diên niên chủ về việc: trung phú, sống lâu, của cải, có 4 đứa con, cưới gã sớm; vợ chồng vui vẽ, nhơn khẩu, lục súc được đại vượng. Ứng vào năm, tháng Tỵ, Dậu, Sửu.

KIẾT TINH THỨ TƯ: Phục vì (Quy hồn): Phàm vợ chồng hiệp được cung Phục vì được Tiểu phú, Trung thọ, sanh con gái nhiều, con trai ít. Cửa lò bếp, trạch chủ nhà được phương Phục vì gặp năm có Thiên Ất Quy Nhơn đến Phục vì ắt sanh con quý, dễ nuôi (Muốn cầu con nên đặt lò bếp day miệng về hướng này).

HUNG TINH THỨ NHỨT: Tuyệt mạng: Phương hướng nhà, Bổn mạng phạm cung Tuyệt mạng có thể bị tuyệt tự, tổn hại con cái, không sống lâu, bịnh tật, thối tài, ruộng vườn súc vật bị hao mòn, bị người mưu hại (người hà bị mưu hại: thương nhơn khẩu). Ứng vào năm, tháng Tỵ, Dậu, Sửu.

HUNG TINH THỨ HAI: Ngũ Quỷ (Giao chiến): Nhà cửa phạm nhằm cung Ngũ quỷ, bị những chuyện: Tôi tớ bỏ trốn, bị mất trộm 5 lần, lại còn bị hỏa hoạn, bịnh tật, khẩu thiệt, hao mòn ruộng vườn, gia súc, thôi tài, tổn nhơn khẩu. Lâm nạn vào năm, tháng: Dần, Ngọ, Tuất.

HUNG TINH THỨ BA: Lục sát (Du hồn): Nếu phương hướng nhà cửa phạm nhằm thì bị: mất của, cải vả, hao mòn gia súc vườn ruộng, thương tổn người nhà. Ứng vào năm, tháng: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

HUNG TINH THỨ TƯ: Họa hại (Tuyệt thế): Phương hướng nhà cửa, cưới gã vân vân ... phạm vào thì bị: quan phi, khẩu thiệt, bịnh tật, của cải suy sụp, thương nhơn khẩu. Ứng hại vào năm, tháng: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

NHẬN XÉT: Phàm Bổn mạng, nên trang nghi nơi bốn Kiết tinh: để cửa ngõ, dựng buồng, chỗ thờ phượng đạt kho đụn, đường ra vào thì tốt. Còn nơi bốn Hung tinh nên đặt nhà xí, hầm phân, xây lò bếp, cối xay giã, đá mài, giặt rửa để yển trấn hung thần thì khỏi lo tai nạn, lại đặng may mắn đến. Điễm này nên dè dặt, tin hay không tin là tùy mình, kẽ tu hành có đức trọng thì qua khỏi, bằng người thường thì sẽ thấy!

---o0o---

CỮU TINH CHẾ PHỤC

Sanh khí giáng Ngũ quỷ

Thiên y chế Tuyệt mạng

Diên niên yểm Lục sát

Chế phục an bài đinh

            Thí dụ: Nhà ở để cửa phạm phương Ngũ quỷ, nên để miệng lò, bếp day hướng Sanh khí thì trừ được. Phạm Tuyệt mạng day hướng Thiên y, phạm Lục sát day hướng Diên niên, nhưng phải nhớ kỹ là lò, bếp phải đặt tại bốn hung phương mới đúng. Nghĩa là lò bếp đặt tại 4 hung phương; miệng lò, bếp ngó qua 4 kiết phương.

---o0o---

HÔN NHƠN, TU TẠO KIẾT HUNG BIỂU

---o0o---


TÁM CUNG KIẾT HUNG CA


Thiên y, Sanh khí hai vì,

Được hai cung ấy vậy thì sống lâu,

Tuyệt mạng thì hẳn lo âu

Nhược bằng ai cãi lấy nhau không bền.

La bồn, Tuyệt thế còn nên,

Bán hung, bán kiết vầy duyên tầm thường.

Ngũ quỷ thì ta phải nhường,

Vợ chồng nghịch ý đau thương đêm ngày.

Phước đức giàu sang ai tày,

Hiệp cung Phục vì cũng được bực trung.

 

Đăng ký kênh Youtube để ủng hộ Giakhoan.com - Kênh Nhân công xây dựng Việt Nam

 

Back to Top