Cẩm nang

Cách xác định Chánh Ngũ hành và Ngũ hành nạp âm

Tìm mạng có hai cách: Một là tìm theo “Chánh Ngũ Hành”, người ta gọi là tìm tắc, hai là tìm theo “Ngũ Hành Nạp Âm”, là tìm đủ.

I. Tìm mạng theo “Chánh Ngũ hành” là muốn biết người đó thuộc về hành nào trong năm hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ. Muốn tìm mạng theo Chánh Ngũ Hành, ta phải thuộc lòng bài sau đây:

TÝ, NGỌ: Ngân, Đăng, Giá, Bích, Câu.

THÌN, TUẤT: Yên, Mãn, Tự, Chung, Lâu.

DẦN, THÂN: Hớn, Địa, Thiêu, Sài, Thấp.

Thử thị Lục giáp khởi vi đầu.

 

 

GIẢI NGHĨA PHẦN CHỮ HÁN:                                    

 

Tý, Ngọ:           Giáp Tý và Giáp Ngọ: Ngân= Kim; Đăng= Hỏa;

Giá= Mộc; Bích= Thổ; Câu= Kim.

Thìn, Tuất:        Giáp Thìn và Giáp Tuất: Yên= Hỏa; Mãn= Thủy;

Tự= Thổ; Chung= Kim; Lâu= Mộc.

Dần, Thân:        Giáp Dần và Giáp Thân: Hớn= Thủy; Địa= Thổ;

Thiêu= Hỏa; Sài= Mộc; Thấp= Thủy.

Như trên là khởi đầu của sáu con giáp.

Tính người 31 tuổi trong năm Mẹo (1987) này coi mạng gì?

Muốn tìm mạng ta cũng phải tính như tính tuổi để tìm tuổi người đó nằm vào vòng con giáp nào, rồi căn cứ ngay đầu con giáp đó theo chiều thuận của kim đồng hồ mà đếm, cứ 2 tuổi kế tiếp một chữ, đến tuổi của người đó thì dừng lại coi nó đúng vào chữ gì là biết người đó thuộc mạng gì.

Giờ tính người 31 tuổi trên coi mạng gì?

Năm Mẹo bấm tại cung Mẹo: 1, 13, 25 rồi 26 tại Dần, 27 tại Sửu, 28 tại Tý, 29 tại Hợi, 30 tại Tuất, 31 tại Dậu (đếm luôn tới đầu con giáp) 32 tại Thân, 33 tại Mùi, 34 tại Ngọ (thuộc Giáp Ngọ, ta dùng câu: Tý Ngọ: Ngân đăng giá bích câu), ta bấm tay tại Ngọ hô: Ngân, tại Mùi Ngân, tại Thân Đăng, tại Dậu Đăng. Người 31 tuổi là mạng Hỏa (vì chữ Đăng có bộ Hỏa).


Năm Mẹo (1987), người 60 tuổi mạng gì?

Ta bấm tay tại cung Mẹo, đếm chồng lên: 1, 13, 25, 37, 49 rồi 50 tại Dần, 51 tại Sửu, 52 tại Tý, 53 tại Hợi, 54 tại Tuất, 55 tại Dậu, 56 tại Thân, 57 tại Mùi, 58 tại Ngọ, 59 tại Tỵ, 60 tại Thìn (60 tuổi Thìn), 61 tại Mẹo, 62 tại Dần, 63 tại Sửu, 64 tại Tý (thuộc con nhà Giáp Tý). Ta cũng dùng câu “Tý Ngọ: Ngân đăng giá bích câu” và hô: Ngân tại Tý (thuận chiều), Ngân tại Sửu, Đăng tại Dần, Đăng tại Mẹo, Giá tại Thìn (dừng lại). Người 60 tuổi (năm Mẹo: 1987) là tuổi Thìn, mạng Mộc.

CHÚ Ý:

1. Tính mạng (ngũ hành) cho những tuổi khác cũng đều cùng một cách, theo cách tính trên mà suy ra.

2. Bao giờ hai tuổi cũng đi liền nhau cùng một mạng tính từ đầu con giáp, nên khi tìm mạng ta phải đọc như sau theo chiều thuận của kim đồng hồ:

Tý, Ngọ: Ngân ngân, đăng đăng, giá giá, bích bích, câu câu.

Thìn, Tuất: Yên yên, mãn mãn, tự tự, chung chung, lâu lâu.

Dần, Thìn: Hớn hớn, địa địa, thiêu thiêu, sài sài, thấp thấp.


II. Tìm mạng theo “Ngũ Hành Nạp Âm” là tìm đủ, trước ta chỉ tìm cho biết là mạng Kim hay mạng Mộc mà thôi, chứ chưa biết là Kim gì và Mộc gì. Giờ ta tìm cho rõ hơn, trước khi biết qua cách tìm, ta nên xem qua bảng Ngũ Hành Nạp Âm đã lập thành dưới đây:

 

BẢNG NGŨ HÀNH NẠP ÂM

VÒNG CON GIÁP

NGŨ HÀNH NẠP ÂM

CHỮ ĐẠI BIỂU

GIÁP TÝ, Ất Sửu

Hải trung - Kim

HẢI

Bính Dần, Đinh Mẹo

Lư trung - Hỏa

Mậu Thìn, Kỷ Tỵ

Đại Lâm - Mộc

LÂM

Canh Ngọ, Tân Mùi

Lộ Bàng - Thổ

LỘ

Nhâm Thân, Quý Dậu

Kiếm Phong – Kim

KIẾM

 

 

 

GIÁP TUẤT, Ất Hợi

Sơn Đầu - Hỏa

ĐẦU

Bính Tý, Đinh Sửu

Giản Hạ - Thủy

GIẢN

Mậu Dần, Kỷ Mẹo

Thành Đầu - Thổ

THÀNH

Canh Thìn, Tân Tỵ

Bạch Lạp – Kim

LẠP

Nhâm Ngọ, Quý Mùi

Dương liễu - Mộc

DƯƠNG

 

 

 

GIÁP THÂN, Ất Dậu

Tuyền Trung - Thủy

TUYỀN

Bính Tuất, Đinh Hợi

Ốc Thượng - Thổ

ỐC

Mậu Tý, Kỷ Sửu

Thích Lịch - Hỏa

LỊCH

Canh Dần, Tân Mẹo

Tòng Bá - Mộc

TÒNG

Nhâm Thìn, Quý Tỵ

Trường Lưu - Thủy

TRƯỜNG

 

 

 

GIÁP NGỌ, Ất Mùi

Sa Trung - Kim

SA

Bính Thân, Đinh Dậu

Sơn Hạ - Hỏa

SƠN

Mậu Tuất, Kỷ Hợi

Bình Địa  - Mộc

BÌNH

Canh Tý, Tân Sửu

Bích Thượng  – Thổ

BÍCH

Nhâm Dần, Quý Mẹo

Kim Bạch - Kim

BẠCH

 

 

 

GIÁP THÌN, Ất Tỵ

Phú Đăng - Hỏa

PHÚ

Bính Ngọ, Đinh Mùi

Thiên Hà - Thủy

Mậu Thân, Kỷ Dậu

Đại Dịch - Thổ

DỊCH

Canh Tuất, Tân Hợi

Thoa Xuyến – Kim

XUYẾN

Nhâm Tý, Quý Sửu

Tang Đố - Mộc

TANG

 

 

 

GIÁP DẦN, Ất Mẹo

Đại Khê- Thủy

KHÊ

Bính Thìn, Đinh Tỵ

Sa Trung - Thổ

TRUNG

Mậu Ngọ, Kỷ Mùi

Thiên Thượng - Hỏa

THIÊN

Canh Thân, Tân Dậu

Thạch Lựu - Mộc

THẠCH

Nhâm Tuất, Quý Hợi

Đại Hải - Thủy

ĐẠI

 

Giờ ta đọc thuộc lòng mấy câu sau đây để tìm “Ngũ Hành Nạp Âm”:

            NHỨT THỬ: Hải, Lư, Lâm, Lộ, Kiếm.

            NHI KHUYỂN: Đầu, Giản, Thành, Lạp, Dương.

            TAM HẦU: Tuyền, Ốc, Lịch, Tòng, Trường.

            TỨ MÃ: Sa, Sơn, Bình, Bích, Bạch.

            NGŨ LONG: Phú (Phúc), Hà, Dịch, Xuyến, Tang.

            LỤC HỔ: Khê, Trung, Thiên, Thạch, Đại.

 

CHÚ THÍCH:

THỬ: Chuột; Tý, là Giáp Tý.

KHUYỂN: Cẩu, chó; Tuất, là Giáp Tuất.

HẦU: Khỉ; Thân, là Giáp Thân.

MÃ: Ngọ, Giáp Ngọ.

LONG: Rồng; Thìn, Giáp Thìn.

HỔ:Cọp; Dần, Giáp Dần.

Tìm mạng theo “Ngũ Hành Nạp Âm” cũng giống y như cách tìm mạng theo “Chánh Ngũ Hành” ở trước. Nghĩa là phải biết tuổi đó thuộc con nhà Giáp gì, rồi từ đầu con Giáp đó đếm theo chiều thuận với kim đồng hồ, tới tuổi của người đó coi trúng vào chữ gì thì biết người đó thuộc mạng gì.


Thí dụ 1: Tìm mạng theo “Ngũ Hành Nạp Âm” của người 31 tuổi, trong năm Mẹo này 1987, coi thuộc mạng gì?

Như trước, ta đã tìm biết người 31 tuổi, “Chánh Ngũ Hành” là mạng Hỏa, con nhà Giáp Ngọ, vậy ta dùng câu “TỨ MÃ: Sa, Sơn, Bình, Bích, Bạch” và đọc : Sa sa , Sơn sơn, Bình bình, Bích bích, Bạch bạch. Vì hai tuổi kè nhau cùng một mạng, các câu khác thuộc con Giáp khác cũng đọc y như vậy.

Giờ ta bấm tay ngay cung Giáp Ngọ mà hô: Sa tại Ngọ, Sa tại Mùi, Sơn tại Thân, Sơn tại Dậu thì dừng lại (vì người 31 tuổi, năm nay là tuổi Dậu), ta thấy tại cung Dậu nhằm chữ SƠN, chữ SƠN đại biểu cho SƠN HẠ HỎA. Vậy người tuổi Dậu 31 tuổi (năm 1987) thuộc mạng Sơn Hạ Hỏa.

Thí dụ 2: Người tuổi Mậu Thìn, năm Mẹo này (1987) 60 tuổi, con nhà Giáp Tý, “Ngũ Hành Nạp Âm” thuộc mạng gì?

Ta đã biết là tuổi Thìn con nhà Giáp Tý, ta dùng ngay câu “NHỨT THỬ: Hải, Lư, Lâm, Lộ, Kiếm” và tính: Bấm tay vào cung Tý, theo chiều thuận, hô: Hải tại Tý, Hải tại Sửu, Lư tại Dần, Lư tại Mẹo, Lâm tại Thìn dừng lại. Chữ Lâm đại biểu cho “ Đại Lâm - Mộc”. Vậy tuổi Mậu Thìn thuộc mạng Đại Lâm - Mộc.

Thí dụ 3: Năm Mẹo (1987) này, người 40 tuổi tính theo “Ngũ Hành Nạp Âm” thuộc mạng gì?

Muốn tính, ta phải biết người 40 tuổi là tuổi gì, con nhà giáp gì, mới tính được. Ta áp dụng cách tính tuổi để tìm can, chi và con giáp của tuổi 40. Năm nay năm Mẹo, ta bấm tay lên cung Mẹo hô: 1, 13, 25, 37 rồi 38 tại Dần, 39 tại Sửu, 40 tại Tý. Ta biết người 40 tuổi là tuổi Tý. Nếu muốn tìm con giáp, ta tính luôn tới: 41 tại Hợi, 42 tại Tuất, 43 tại Dậu, 44 tại Thân thì dừng lại vì đã tới đầu con giáp rồi (năm nay Mẹo, đầu con giáp ở số chẵn). Nếu muốn biết người 40 tuổi là tuổi Tý mà Tý gì thì ta bấm tay tại cung Thân theo chiều thuận mà đếm mỗi cung mỗi chữ: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu tới cung Tý thì dừng lại, ấy là tuổi Mậu Tý. Ta thấy tuổi Mậu Tý 40 tuổi này con nhà Giáp Thân, ta dùng câu “TAM HẦU: Tuyền, Ốc, Lịch, Tòng, Trường” để tính. Theo chiều thuận, ta bấm tay lên cung Giáp Thân hô: Tuyền tại Thân, Tuyền tại Dậu, Ốc tại Tuất, Ốc tại Hợi, Lịch tại Tý, ta thấy tại cung Tý của tuổi Tý trúng nhằm chữ Lịch, chữ Lịch đại biểu cho “Thích Lịch - Hỏa”.

Vậy, năm Mẹo này người 40 tuổi là tuổi Mậu Tý, con nhà Giáp Thân, mạng  Thích Lịch - Hỏa.

Ta đã biết về Ngũ Hành Nạp Âm và cách tính Ngũ Hành Nạp Âm, vậy ta cũng nên biết qua sự sanh khắc chế hóa riêng biệt của nó để sử dụng thì mới bổ ích.

Ta hãy đọc các bài văn vần và lời giải thích sau đây cho dễ nhớ: Theo Chánh Ngũ Hành: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Mỗi lần thấy khắc là luôn luôn có tai hại.

Theo Ngũ Hành Nạp Âm, có khi hành này khắc hành kia không phải là xấu, trái lại nhờ khắc đó mà trở thành tốt.

Hãy xem năm bài nói về Ngũ Hành Nạp Âm dưới đây:

HÀNH KIM

Sa trung, Kiếm phong lưỡng ban cầm (cầm = Kim)

Nhược cư chấn địa (Mộc) tiện tương xâm.

Ngoại hữu tứ kim tu kỵ Hỏa,

Kiếm, Sa vô Hỏa bất thành hình.

NGHĨA:

Hai thứ Ngũ Hành Nạp Âm là: Sa trung – Kim và Kiếm phong – Kim nếu gặp Mộc (chấn = Mộc) thì khắc ngay. Ngoài ra bốn thứ Kim khác là  Hải trung – Kim,  Bạch Lạp – Kim,  Kim Bạch – Kim và Thoa Xuyến – Kim đều kỵ Hỏa. Riêng về Kiếm Phong – Kim, Sa trung – Kim chẳng những không kỵ Hỏa mà trái lại còn phải nhờ Hỏa mới thành đồ dùng.

Nhưng CAN, CHI nếu gặp THIÊN khắc ĐỊA xung thì phải tránh. Thí dụ: Nhâm Thân, Quý Dậu là Kiếm phong Kim gặp Bính Dần, Đinh Mẹo Lư trung Hỏa thì phải tránh là tốt (Nhâm, Quý thuộc Thủy; Bính, Đinh thuộc Hỏa; Thân, Dậu thuộc Kim; Dần, Mẹo thuộc Mộc; Thủy khắc Hỏa, Kim khắc Mộc).

HÀNH MỘC

Tòng bá, Dương Liễu, Tang đô Mộc,

Thạch lựu, Đại lâm kỵ kim đao.

Duy hữu thản nhiên Bình địa Mộc

Vô kim bất đắc thượng thanh vân.

NGHĨA:

Năm thứ Mộc là: Tòng Bá - Mộc, Dương liễu - Mộc, Thạch lựu - Mộc và Đại Lâm - Mộc đều bị Kim khắc, chỉ có một thứ Bình địa Mộc (gổ) chẳng những không sợ Kim khắc mà còn cần phải có Kim khắc mới được đắc dụng, nếu không thật khó cầu công danh phú quý.
   

HÀNH THỦY

Thủy kiến: Thiên hà, Đại hải lưu,

Nhị giả bất phạ chổ vi cừu.

Ngoại hữu số ban tu kỵ thổ,

Nhất sanh y lặc tất nan cầu.

NGHĨA:

Hai thứ Thủy là: Thiên hà Thủy va Đại hải Thủy, không khi nào sợ Thổ khắc; nhưng nếu gặp CAN CHI Thiên khắc Địa xung phải tránh mới tốt. Thí dụ Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thiên hà Thủy gặp Canh Tý, Tân Sửu là Bích thượng Thổ nên tránh là tốt.

Ngoài ra, các thứ Thủy khác là: Giản hạ Thủy, Tuyền trung Thủy, Trường lưu Thủy và Đại khê Thủy đều bị Thổ khắc. Nếu bị Thổ khắc, tất nhiên một đời khó cầu y lộc.

HÀNH HỎA

Phú đăng, Lư Hỏa dữ Sơn đầu,

Tam giả nguyên lai phạ thủy lưu.

Ngoại hữu tam ban bất phạ thủy,

Nhất sanh y lộc cận Vương hầu.

NGHĨA:

Ba thứ Hỏa là: Phú đăng Hỏa, Lư trung Hỏa và Sơn đầu Hỏa đều sợ Thủy khắc. Ngoài ra ba thứ Hỏa khác là: Thiên thượng Hỏa, Thích lịch Hỏa, Sơn hạ Hỏa lại không sợ Thủy, trái lại nếu được Thủy khắc thì các mạng đó sẽ được y lộc đầy đủ, một đời gần bực Vương hầu.

HÀNH THỔ

Thành đầu, Ốc thượng dữ Bích thượng,

Tam thổ nguyên lai phạ Mộc xung.

Ngoại hữu tam ban bất phạ Mộc,

Nhứt sanh thanh quý bộ thiềm cung.

NGHĨA:

Ba thứ Thổ là: Thành đầu Thổ, Ốc thượng Thổ và Bích thượng Thổ vốn sợ Mộc khắc. Ngoài ra, có ba thứ Thổ khác là: Lộ bàng Thổ, Đại dịch Thổ và Sa trung Thổ đều không sợ Mộc, trái lại nếu có Mộc khắc càng tốt, đời người sẽ được thanh quý, cao sang, vào trường thi ắt đậu (đăng khoa).

NGŨ HÀNH TỲ HÒA:

Tỳ hòa, có nghĩa là hai bên ngũ hành cùng một loại, như anh em ngang vai(tỳ=tỷ=sánh, hòa=huề, không bên nào hơn bên nào), như: Mộc với Mộc, Hỏa với Hỏa vân vân ...

Tỳ hòa có tốt có xấu:

Trường hợp tốt, người ta nói:

Lưỡng Hỏa thành viêm

Lưỡng Mộc thành lâm

Lưỡng Thủy thành xuyên

Lưỡng Thổ thành sơn

Lưỡng Kim thành khí

Đây là hai bên cùng đồng một loại ngũ hành chung hiệp với nhau mà CAN CHI cũng được sanh hợp để giúp thêm sức mạnh cho nhau, đó là tốt.

Thí dụ: Giáp Thìn, Ất Tỵ là Phú đăng Hỏa (lửa đèn) và Bính Thân, Đinh Dậu là Sơn hạ Hỏa (lửa dưới núi), hai bên sanh hợp lẫn nhau (Giáp Ất thuộc Mộc, Bính Đinh thuộc Hỏa = tương sanh; Thìn thuộc Thổ, Tỵ thuộc Hỏa= tương sanh; Thân Dậu đều thuộc Kim=tỳ hòa) mới thêm sức nóng, sức sáng, thì gọi là “Lưỡng Hỏa thành viêm”).

Trường hợp xấu, người ta lại nói:

Lưỡng Mộc Mộc chiết

Lưỡng Kim Kim khuyết

Lưỡng Hỏa Hỏa diệt

Lưỡng Thủy Thủy kiệt

Lưỡng Thổ Thổ liệt

Đây là hai bên cũng đồng thuộc về một ngũ hành nạp âm như nhau mà có CAN khắc hay CHI xung, nếu bổn mạng bị xung khắc thì không nên dùng. Trường hợp này, không bao giờ có vừa CAN khắc vừa CHI xung cùng một lúc.

Thí dụ: Mậu Tý, Kỷ Sửu là Thích lịch Hỏa và Mậu Ngọ, Kỷ Mùi là Thiên thượng Hỏa, hai bên Thiên can đồng một loại mà Địa chi lại tương xung (Tý thuộc Thủy, Sửu thuộc Thổ; Ngọ thuộc Hỏa, Mùi thuộc Thổ). Nếu hai bên gặp nhau ma bổn mạng bị xung hay khắc thì gọi là “Lưỡng hỏa hỏa diệt”.

Cũng có sách nói: Hai bên đồng một ngũ hành, cả hai đều yếu sức mà gặp nhau là tốt, như lửa đèn và lửa duới núi hiệp nhau đã nói ở trên thì gọi là: “Lưỡng hỏa thành viêm”, còn như hai bên đồng một thứ ngũ hành mà cả hai đều mạnh, nếu gặp nhau là xấu.

Thuyết này không hẳn đúng, không nên quá tin. Vì dầu yếu dầu mạnh mà CAN CHI tương sanh tương hợp hay CAN CHI tuy xung khắc mà không xung khắc bổn mạng thì cũng ít hại.

“Ngũ hành nạp âm” tương khắc còn có khi tốt huống chi là hai bên Tỳ hòa nhau, phần tốt lấn hơn phần xấu là dùng được rồi.

Điều nên chú ý: Chánh Ngũ Hành mới là quan trọng, còn Ngũ Hành Nạp Âm là phần phụ mà thôi.

Nên biết thêm:

1. Tháng giêng là tháng Dần, tháng hai là Mẹo, tháng ba là Thìn, tháng tư là Tỵ, tháng năm là Ngọ, tháng sáu là Mùi, tháng bảy là Thân, tháng tám là Dậu, tháng chín là Tuất, tháng mười là Hợi, tháng mười một là Tý, tháng chạp (12) là Sữu.

2. Mười hai trực, mỗi ngày một trực: Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thâu, Khai, Bế. (Khi chọn ngày, người ta chọn những ngày có trực: Trừ, Định, Chấp, Nguy, Thành, Khai, những trực này trong lịch thường in màu ĐỎ; còn những trực: Kiến. Mãn, Bình, Phá, Thâu, Bế, người ta ít dùng tới, trong lịch thường in mực ĐEN).

3. Hai mươi bốn (24) tiết khí thuộc 12 tháng:

 

Lập Xuân,

Vũ Thủy

là tháng Giêng

(1)

Kinh Trập,

Xuân Phân

là tháng Hai

(2)

Thanh Minh,

Cốc Vũ

là tháng Ba

(3)

Lập Hạ,

Tiểu mãn

là tháng Tư

(4)

Manh Chủng,

Hạ Chí

là tháng Năm

(5)

Tiểu Thử,

Đại Thử

là tháng Sáu

(6)

Lập Thu,

Xử Thử

là tháng Bảy

(7)

Bạch Lộ,

Thu Phân

là tháng Tám

(8)

Hàn Lộ,

Sương Giáng

là tháng Chín

(9)

Lập Đông,

Tiểu Tuyết

là tháng Mười

(10)

Đại Tuyết,

Đông Chí

là tháng Mười Một

(11)

Tiểu Hàn,

Đại Hàn

là tháng Chạp

(12)

 

4. Hiểu thêm về sự kiết hung của 28 vị sao (tức Nhị Thập Bát Tú), mỗi vị đóng một ngày. Cữ luân chuyển mãi: Giác (kiết), Cang (hung), Đê (hung), Phòng (kiết), Tâm (hung), Vĩ (kiết), Ky (kiết), Đẩu (kiết), Ngưu (hung), Nữ (hung), Hư (hung), Nguy (hung), Thất (kiết), Bích (kiết), Khuê (hung), Lâu (kiết), Vị (kiết), Mão (hung), Tất (kiết), Chủy (hung), Sâm (kiết), Tỉnh (kiết), Quỷ (hung), Liễu (hung),Tinh (hung), Trương (kiết), Dực (hung), Chẩn (kiết). Trong lịch Tàu, 28 vị sao này hể tốt thì in mực đỏ còn xấu thì in mực đen.

Các điều kiện tiên quyết tạm đủ, giờ đến việc chọn ngày.

- Theo Nông lịch (tức Âm lịch hay Lịch ta) thì tháng thiếu là 29 ngày, tháng đủ là 30 ngày. Tuy lịch để như vậy nhưng khi chọn ngày không phải cứ dở lịch ra thấy 29 hay 30 ngày là tính qua tháng khác đâu, ta phải căn cứ theo 24 tiết khí hay là chỗ hòa trực (giáp trực hay đồng trực) mà tính qua tháng khác, nếu không theo tiết hoặc theo trực là tính sai tháng. Bởi vậy, có khi đã leo qua tháng sau 5, 7 ngày mà vẫn phải tính ở tháng trước, hoặc còn 5, 6 ngày mới hết tháng mà phải tính cho tháng sau. Nên để ý đầu tiết bao giờ cũng đi liền hai trực, một trực là cuối tháng, một trực là đầu tháng.

- Nếu coi ngày đám cưới thì phải theo tuổi của chú rể, coi ngày làm nhà phải theo tuổi của người chồng; người vợ hay cô dâu là phụ thuộc nên không ảnh hưởng gì. Coi ngày giờ tẩn liệm, chôn cất phải coi theo tuổi của người chết.

- Tuổi và ngày phải được Tam hạp hay Lục hạp, Chi đức hạp, Tứ kiểm hạp, tránh Lục xung, Lục hình, Lục hại. Về Ngũ hành phải được tương sanh hoặc tỳ hòa, tránh tương khắc.

 

Đăng ký kênh Youtube để ủng hộ Giakhoan.com - Kênh Nhân công xây dựng Việt Nam


Back to Top